Kiến Thức Cơ Bản Y Học Cơ Sở 

VI KHUẨN E. COLI , VI KHUẨN E. COLI GÂY BỆNH GÌ?

Vi khuẩn E. Coli (Escherichia Coli) được phân lập năm 1885 bởi Escherich. Đây là loại vi khuẩn ký sinh bình thường ở đường ruột, nhưng đồng thời cũng là tác nhân gây bệnh khi chúng xâm nhập vào các cơ quan khác như: đường tiết niệu, máu,… Và có một nhóm vi khuẩn E. Coli gây bệnh ở đường tiêu hóa.

  1. Khả năng gây bệnh của vi khuẩn E. Coli ở đường tiêu hóa

Dựa vào cơ chế bệnh sinh, các vi khuẩn E. Coli gây bệnh tiêu chảy ở người được chia thành các nhóm khác nhau.

a. Nhóm vi khuẩn Enteropathogenic E. Coli (EPEC): vi khuẩn E. Coli gây bệnh đường ruột.

Nhóm vi khuẩn E. Coli này gây bệnh viêm dạ dày ruột. Thường gặp ở trẻ em dưới 1 tuổi và có thể tạo thành dịch.

Biểu hiện của bệnh  là tình trạng tiêu chảy cấp, có thể có dấu hiệu nhiễm độc.

Các vi khuẩn E. Coli  gây bệnh này thuộc tuýp huyết thanh O26, O55, O86, O111, O119, O125, O127, O128. Trong đó, tuýp O111 hay gặp nhất.

Các chủng EPEC bám vào tế bào niêm mạc đường tiêu hóa nhờ các pili. Chúng không xâm nhập vào trong tế bào. Vi khuẩn sinh ra độc tố gây tổn thương cho lớp tế bào biểu mô ruột. Và phá hủy lớp nhung mao của tế bào.

b. Nhóm vi khuẩn Enterotoxigenic E. Coli (ETEC): Vi khuẩn E. Coli sinh độc tố ruột.

Các chủng ETEC là căn nguyên gây bệnh tiêu chảy cấp giống tả. Bệnh thường gặp ở trẻ em ở các nước đang phát triển. ETEC còn là một trong số các căn nguyên gây ra bệnh tiêu chảy cho khách du lịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.

Vi khuẩn E. coli sinh độc tố ruột
Vi khuẩn E. coli sinh độc tố ruột

ETEC gây bệnh bằng cách gắn vào niêm mạc ruột nhờ các yếu tố bám dính, đồng thời sinh ra một hoặc hai loại độc tố ruột :

– Độc tố ruột LT (Heat – labile tocxine) : Là loại độc tố bị hủy bởi nhiệt. Đây là loại độc tố có bản chất là protein. Nó có cấu trúc và cơ chế tác động giống như độc tố ruột của vi khuẩn tả.

– Độc tố ruột ST (Heat – Stable tocxine) : Là loại độc tố bền vững với nhiệt độ và là một loại peptid. Thụ thể dành cho các ST khác với thụ thể cho LT. Sau khi đã gắn với thụ thể, ST sẽ hoạt hóa guanylcyclase. Dẫn tới làm tăng guanosine monophosphate vòng (GMP vòng). Do đó xảy ra hiện tượng hút nước và điện giải vào lòng ruột như tác dụng của GMP vòng.

c. Nhóm vi khuẩn Enteroinvasive E. Coli (EIEC): vi khuẩn E. Coli xâm nhập ruột.

Là loại vi khuẩn E. Coli gây bệnh bằng cơ chế xâm nhập vào tế bào biểu mô niêm mạc đại tràng. Gây tiêu chảy ở cả người lớn và trẻ em. Triệu chứng bệnh lý do các chủng này gây ra giống với bệnh lỵ. Nghĩa là có biểu hiện đau quặn bụng, mót rặn, đi ngoài nhiều lần, phân có nhầy và máu.

d. Nhóm vi khuẩn Enterohemorrhagic E. Coli (EHEC): vi khuẩn E. Coli gây xuất huyết ruột.

EHEC là một trong những tác nhân gây tiêu chảy, có thể dẫn tới viêm đại tràng xuất huyết và hội chứng tan máu ure huyết.

Khả năng gây bệnh của những chủng vi khuẩn này là do chúng tiết ra một lượng lớn độc tố. Độc tố này có cấu trúc và cơ chế tác động giống với độc tố của một chủng khuẩn lỵ (Shigella Shiga). Độc tố vào máu gây tan máu và tắc các mao mạch, nhất là các mao mạch đường tiêu hóa và thận.

e. Nhóm vi khuẩn Enteroaggregative E. Coli (EAEC): vi khuẩn E. Coli bám dính tập kết ruột.

Là loại vi khuẩn E. Coli bám dính ở tế bào niêm mạc ruột tạo thành những đám vi khuẩn. Vì vậy có tên là vi khuẩn E. Coli bám dính tập kết ruột

Các vi khuẩn này sản xuất độc tố ruột chịu nhiệt ST và dung huyết tố Hemolysin không chịu nhiệt gây phù nề, chảy máu, làm tổn thương chức năng ruột gây tiêu chảy kéo dài (>14 ngày). Bệnh thường gặp ở trẻ em ở các nước đang phát triển.

f. Diffusely adherent E. Coli (DAEC) : vi khuẩn E. Coli bám dính phân tán.

Các chủng E. Coli bám dính phân tán ở tế bào ruột. Đồng thời tiết độc tố ruột làm phá hủy tế bào biểu mô đại tràng gây tiêu chảy, phân thường không có máu.

  1. Vi khuẩn E. Coli gây bệnh ngoài đường tiêu hóa

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu : vi khuẩn E. Coli là vi khuẩn thường gặp nhất gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở cộng đồng như : viêm bàng quang, viêm bể thận – thận. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu thường là ngược dòng. Ở phụ nữ, vì đường niệu đạo ngắn và thẳng hơn nên nhiễm khuẩn đường tiết niệu do E. Coli thường gặp hơn. Ở nam giới, nhiều khuẩn thường thứ phát do nước tiểu bị ứ đọng do sỏi, u tuyến tiền liệt. Vi khuẩn E. Coli thường gây nhiễm khuẩn tiết niệu trong nhiễm trùng bệnh viện.

vi khuẩn E. Coli
Cách vi khuẩn E. Coli gây bệnh ngoài đường tiêu hóa

Các nhiễm khuẩn khác do E. Coli: E. Coli có thể gây nhiễm khuẩn đường sinh dục, nhiễm khuẩn gan mật, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não ở trẻ còn bú. Các nhiễm khuẩn có thể gặp ở cộng đồng hoặc nhiễm trùng bệnh viện.

  1. Chẩn đoán vi sinh vật vi khuẩn E. Coli.

Chỉ áp dụng phương pháp chẩn đoán trực tiếp để chẩn đoán các nhiễm khuẩn do E. Coli.

Bệnh phẩm : tùy bệnh mà bệnh phẩm có thể là phân, nước tiểu, dịch não tủy, máu,…

Trong bệnh tiêu chảy, bệnh phẩm là phân. Cấy phân để phân lập vi khuẩn. Đối với EPEC thì xác định bằng huyết thanh mẫu. Với EHEC xác định huyết thanh O157 :H7. Đối với ETEC tìm khả năng sinh độc tố. Đối với EIEC cần xác định khả năng xâm nhập, có thể dùng thử nghiệm Sereny để xác định, hoặc khả năng xâm nhập tế bào Hela trên nuôi cấy tế bào. Đối với EAEC xác định yếu tố bám dính. Ngày nay, có thể xác định các nhóm E. Coli tiêu chảy bằng phản ứng PCR đa mồi.

Trong nhiễm khuẩn đường tiết niệu, chỉ nuôi cấy khi nhuộm soi cặn nước tiểu có nhiều bạch cầu đa nhân và kết quả cấy đếm có số lượng trong 1 ml bệnh phẩm >105.

– Với những nơi bình thường vô khuẩn như máu hay dịch não tủy, chỉ cần nuôi cấy thấy có vi khuẩn thì đó chính là tác nhân gây bệnh.

  1. Phòng và điều trị bệnh

* Phòng bệnh

Hiện nay chưa có vacxine. Chủ yếu là phòng bệnh chung như tôn trọng các nội quy về vệ sinh môi trường, đảm bảo vệ sinh ăn uống.

* Điều trị bệnh

Vi khuẩn E. Coli là vi khuẩn đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh. Vì vậy, khi mắc bệnh, cần làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích hợp trong điều trị.

Related posts

Leave a Comment