Phân độ bỏngChấn thương Kiến Thức Cơ Bản 

PHÂN ĐỘ BỎNG – MỨC ĐỘ BỎNG

1. Có nhiều cách phân loại độ sâu của tổn thương bỏng:​

* Dupuytren chia bỏng làm 6 độ: da đỏ, nốt phỏng, hoại tử trung bì, hoại tử toàn lớp da, hoại tử da cơ và xương.​

* Quân Y Pháp chia bỏng thành 2 loại:​

– Bỏng kín: vết bỏng tự liền da​

– Bỏng hở: vết bỏng có mô hạt​

* Một số nước Âu Mỹ phân chia theo độ sâu bỏng thành 3 độ: Độ I, độ II (độ II nông và độ II sâu), độ III (độ III nông và độ III sâu).​

* Nga phân chia thành 4 độ: độ I, độ II, độ IIIa, độ IIIb, độ IV.​

* Hiện nay phần lớn viện bỏng ở nước ta chia mức độ tổn thương bỏng thành 2 nhóm (bỏng nông và bỏng sâu) và 5 mức độ sâu (theo tác giả Lê Thế Trung) .

Phân độ sâu của bỏng
Phân độ sâu của bỏng

2. Phân loại bỏng theo độ nông sâu

– Bỏng nông (chỉ cần 1 trong 3 dấu hiệu sau đã giúp chẩn đoán):

+ Có nốt phỏng.

+ Nền tổn thương bỏng có màu hồng hoặc đỏ.

+ Còn cảm giác đau vùng bỏng.

– Bỏng sâu (chỉ cần 1 trong 3 dấu hiệu sau đã đủ giúp chẩn đoán):

+ Có hoại tử bỏng: hoại tử ướt (màu trắng bệch như thịt luộc, màu trắng xám, xanh xám khi đã có nhiễm khuẩn, phù nề gồ cao hơn vùng da lành, mềm ướt khi sờ); hoặc hoại tử khô (màu đen hoặc vàng xám, lõm hơn da lành, khô ráp khi sờ, có các dấu hiệu tắc mạch phía dưới).

+ Mất hoàn toàn cảm giác đau tại vùng bỏng.

+ Có các dấu hiệu tại vùng bỏng như: lộ cơ, mạch máu, xương, khớp, gân hay các tạng khác dưới da.

3. Phân độ bỏng sâu

Bỏng độ 1: Viêm cấp da do bỏng

+ Tổn thương tới lớp tế bào hạt.

   + Tổn thương lớp nông biểu bì, viêm da vô trùng.

   + Da khô, đỏ nề, đau rát.

   + Khỏi sau 2-3 ngày. Có thể thấy lớp nông của biểu bì khô và bong.

   + Hay gặp khi tắm nắng hoặc ở vùng ngoại vi của bỏng nước sôi.

Bỏng độ I

Bỏng độ 2: Bỏng biểu bì

   + Tổn thương tới lớp tế bào Malpighi (lớp gai), lớp đáy còn nguyên.

   + Trên nền da nề đỏ, đau rát, có nốt phỏng nước to, nhỏ khác nhau, vòm mỏng, chứa dịch trong hoặc vàng nhạt. Sự hình thành các nốt phỏng này có thể xuất hiện muộn sau 12-24 giờ. Khi trợt vỡ, các nốt phỏng để lại đáy màu hồng, ánh ướt có thấm dịch xuất huyết.

   + Sau 3-4 ngày, hiện tượng viêm (đỏ, phù, sưng, đau) đỡ. Tại các nốt phồng, dịch cô đọng lại.

   + Nếu điều trị tốt, sau khoảng 2 tuần, lớp biểu bì được phục hồi để lại da hồng, không có sẹo bỏng.

Bỏng độ II

Bỏng độ 3: Bỏng trung bì.

Chia làm 2 loại:

– Bỏng độ III nông (IIIa)

+ Hoại tử toàn bộ lớp biểu bì. Tổn thương phần lớn các thành phần lớp trung bì. Nhưng ống và gốc lông, các tuyến mồ hôi còn nguyên vẹn.

+ Trên nền da đỏ, nề có các nốt phỏng nước vòm dày chứa dịch hồng. Khi trợt vỡ, đáy nốt phỏng màu tím sẫm hoặc trắng, xám.

+ Tăng cảm giác đau.

+ Tự liền nhờ biểu mô hóa từ các phần phụ còn lại của da từ ngày 15 đến ngày 30. Nền da mới nhạt màu hơn phần da lân cận.

Bỏng độ III nông

– Bỏng độ III sâu (IIIb).

+ Tổn thương tới lớp lưới trung bì, chỉ còn lại phần sâu của gốc lông, tuyến mồ hôi.

+ Có đám hoại tử da mỏng, màu vàng, giảm cảm giác đau, không có hình mạch máu dưới da, da không răn rúm.

+ Hoại tử rụng vào ngày thứ 12 sau bỏng. Để lại nền là tổ chức hạt xen lẫn các đảo biểu mô lấm tấm trắng hồng óng ánh của các tuyến và gốc lông.

+ Tổn thương bỏng sẽ khỏi từ ngày 30-45 do sự lan tỏa của các đảo biểu mô kết hợp với các tế bào biểu mô của phần biểu bì lành ở mép vết thương bỏng lan tới.

Bỏng độ III sâu

Bỏng độ 4: Bỏng toàn bộ lớp da.

+ Các lớp biểu bì, trung bì, hạ bì đều bị tổn thương.

+ Có 2 dạng là hoại tử khô và hoại tử ướt​

+ Không tự liền được do không còn các thành phần biểu mô. Hoại tử rụng hình thành mô hạt​

Hoại tử khô:  ​

 + Chắc, có màu đen hoặc vàng thẫm. Hơi lõm hơn so với da lành, nhăn nhúm hoặc nứt nẻ.

+ Sờ thấy chắc, khô ráp, mất cảm giác.

+ Lưới mạch máu dưới da đông tắc​

+ Khô đét và rụng cả khối, nhiều dịch mủ phía dưới​

+ Thường do sức nhiệt khô: lửa, tiếp sức vật nóng.

Hoại tử ướt​

+ Màu trắng bệch hoặc đỏ xám, chỗ trắng, chỗ xám như đá hoa. Có khi lẫn những vùng da đỏ tím sẫm.

+ Gò cao hơn vùng lân cận.

+ Sờ thấy mịn, mất cảm giác.

+ Xung quanh có phù nề, xung huyết rộng.

+ Nguy cơ nhiễm khuẩn cao.

+ Tan rữa và rụng từ ngày thứ 15-20 để lại nền là tổ chức hạt. Nếu diện tích ít thì có khả năng tự sẹo hóa. Nếu diện tích nhiều phải ghép da.

Bỏng hoại tử ướt

Bỏng độ V:

+ Tổn thương toàn bộ lớp da, ngoài ra tổn thương còn tới thần kinh, mạch máu, xương, khớp.

+ Khám thấy lộ rõ gân , cơ , xương​

+ Thường do bỏng điện cao thế, bỏng lửa khi lên cơn động kinh, hôn mê, ngất,…​

+ Hậu quả nặng nề.

Bỏng sâu lộ gân, phá hủy lớp cơ

Dựa vào diện tích bỏng, diện tích bỏng sâu, vị trí bỏng, các tổn thương và các bệnh lý kèm theo người ta phân độ bỏng thành 3 mức: Nặng – Trung bình – Nhẹ:

Phân độ bỏng
Phân độ bỏng

4. Thực hiện các thủ thuật chẩn đoán độ bỏng:

* Nghiệm pháp thử cảm giác đau:​

–  Nhổ lông vùng tổn thương/dùng kim châm/bông cồn chấm vùng bỏng​

–  Đau tăng so với da lành: bỏng độ II​

–  Đau giảm so vs da lành: bỏng độ III​

–  Mất hoàn toàn cảm giác đau : bỏng độ IV​

LƯU Ý​

–  Thực hiện khi chưa dùng giảm đau,​

–  Không dùng cho trẻ em​

–  Tránh gây đau quá mức cho bệnh nhân​

* Nghiệm pháp tuần hoàn vùng bỏng:​

     Đặt vòng vải của dụng cụ đo HA lên trên của vùng chi bị bỏng. Bơm không khí đến 80 – 90 mmHg để 10 phút. Nếu là bỏng nông màu sẽ tím dần. Nếu là bỏng sâu sẽ không thay đổi màu sắc (do tắc mạch)​

* Nghiệm pháp rạch da hoại tử: ​

Tiến hành khi hoại tử chu vi chi thể, hoặc chu vi ngực, bụng. Nếu rạch hoại tử vẫn không chảy máu, không đau -> tổn thương tiếp tục còn sâu. ​

* Một số biện pháp tiến hành ở cơ sở lớn:​

– Dùng chất màu (xanh Evans…) dùng chất huỳnh quanh tiêm tĩnh mạch. Nếu không thấy chất màu hoặc phát huỳnh quang​

Tại vết bỏng thì tắc tuần hoàn mao mạch >>> bỏng sâu.​

Dùng chất màu bôi vùng bỏng, quan sát thấy sự thay đổi màu tương ứng với các độ sâu của bỏng.​

Dùng đồng vị phóng xạ,siêu âm, Xquang, CT, MRI, đo điện trở vùng  bỏng.​

Đo tuần hoàn vùng bỏng bằng kỹ thuật laser dopperimaging.

Sinh thiết da làm giải phẫu bệnh >>> chẩn đoán xác định độ sâu bỏng.

5. Diễn biến của bỏng

Đa số bỏng nông, diện tích hẹp nên tiên lượng nhẹ, chỉ cần chăm sóc tại chỗ là khỏi. Bỏng nặng diễn biến qua các giai đoạn:

Giai đoạn Sốc bỏng
Giai đoạn Nhiễm độc cấp tính
Giai đoạn Nhiễm trùng
Giai đoạn Hồi phục hoặc Suy Kiệt

* Giai đoạn sốc bỏng

– Sốc cương (Sốc thần kinh): Gặp ở những bệnh nhân đến sớm trong những giờ đầu ngay sau khi bị bỏng. BN kích thích vật vã, huyết áp DM tăng cao, mạch nhanh nảy, thở nhanh nông

– Sốc nhược ( Sốc thể dịch): xuất hiện dần dần song song với mức thoát huyết tương và giảm khối lượng máu lưu hành. Thường từ giờ thứ 5-6 trở đi sau khi bị bỏng. (Toàn thân BN mệt mỏi li bì thờ ơ với ngoại cảnh, có khi hôn mê, mạch nhanh, HA tụt, thở nhanh nông, có thể SHH, Suy thận cấp, thân nhiệt thường hạ, trẻ em có thể sốt cao, tổn thương tại chỗ bỏng tiết dịch nhiều, phù.

* Giai đoạn Nhiễm độc cấp tính

Triệu chứng rầm rộ, cấp tính

BN có hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc rõ, sốt cao 40-41 độ C, da lạnh, nổi vân tím.. Nếu có sốc nhiễm khuẩn thân nhiệt sẽ hạ thấp

BN ảo giác, hoang tưởng, trầm cảm, mê sảng

Tuần hoàn: mạch nhanh, nhỏ,… nếu có sốc nhiễm khuẩn thì HA hạ

Hô hấp: thở nhanh nông. Có biến chứng Viêm phổi, viêm mủ màng phổi, áp xe phổi

Tiêu hóa: chán ăn buồn nôn, nôn, tiêu chảy cấp,…

Tại chỗ: dịch mủ, mùi hôi

* Giai đoạn Nhiễm trùng

Sốt dao động

– Người gầy mòn, kém ăn, lớp mỡ dưới da mắt, teo cơ, thay đổi tính tình và rối loạn tinh thần

– Phù do áp lực keo máu giảm, loét các vị trí tỳ đè

– Tại chỗ rối loạn quá trình tái tạo phục hồi.

* Giai đoạn Hồi phục hoặc Suy Kiệt

– Hồi phục: Vết bỏng sâu được phủ kín bằng ghép da. Các rối loạn các cơ quan dần hồi phục. Tại chỗ có thể để lại di chứng đến vận động hoặc thẩm mỹ như sẹo lồi, sẹo phì đại, sẹo dính,…

– Suy kiệt: Nếu như trong trường hợp này mà điều trị kém, bệnh nhân bị suy mạn, thiếu nhiều thành phần protein thì sẽ lâm vào vòng luẩn quẩn của bệnh lí. Người ngày một trở nên gầy mòn, hốc hác đi, miếng vá da không ăn loét nhiều vị trí  khác, bàn chân của bệnh nhân  trở nên bị nề cao lên và tỷ lệ  tử vong trong các trường hợp này sẽ cao hơn so với các trường hợp khác.

Related posts

Leave a Comment