Bệnh Thường Gặp Ung thư 

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ HIỆN NAY (P4)

Các phương pháp điều trị ung thư khác:


Ngoài các phương pháp điều trị ung thư chính nêu trên còn nhiều phương pháp điều trị ung thư khác được nghiên cứu trong những năm gần đây.

Điều trị miễn dịch:

có 2 loại chính
Miễn dịch thụ động không đặc hiệu: Interferon và interleukin.
Miễn dịch chủ động không đặc hiệu: Bơm BCG vào trong bàng quang.

Tìm hiểu thêm về điều trị ung thư bằng miễn dịch TẠI ĐÂY

Điều trị ung thư bằng liệu pháp miễn dịch tế bào T

Phương pháp điều trị ung thư hướng đích (Targeted cancer therapy):

Điều trị ung thư hướng đích là sử dụng các loại thuốc ngăn chặn sự phát triển và lan rộng của tế bào ung thư. Bằng cách cản trở các phân tử đặc hiệu liên quan đến quá trình sinh ung thư và sự phát triển của khối u. Bởi vì các nhà khoa học gọi các phân tử này là phân tử đích (moleculer targets). Nên các phương pháp điều trị ngăn cản chúng gọi là điều trị hướng đích phân tử (moleculerly target therapies). Điều trị nhắm vào đích phân tử là phương pháp điều trị ung thư có hiệu quả hơn các phương pháp điều trị hiện nay và ít gây độc tế bào hơn.

Hầu hết các trường hợp điều trị ung thư hướng đích là các thử nghiệm tiền lâm sàng. Một số đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và một số khác đã được FDA đồng ý đưa vào điều trị. Điều trị ung thư hướng đích có thể sử dụng đơn thuần hoặc kết hợp với nhau. Hoặc kết hợp với các phương pháp điều trị ung thư khác như hóa trị liệu.

Điều trị ung thư hướng đích bao gồm nhiều loại thuốc, một số được liệt kê dưới đây:

+ Thuốc tác động các phân tử nhỏ (small molecule): ngăn cản những enzyms đặc hiệu và GFRs (Growth Factor receptor) liên quan đến sự phát triển tế bào ung thư. Những thuốc này cũng còn được gọi là thuốc ức chế dẫn truyền tín hiệu.
+ Gleevec: (STI-571 hoặc imatinib mesilate):. Là loại thuốc tác động vào các phân tử nhỏ được FDA cho phép sử dụng để điều trị ung thư tế bào đệm của ống tiêu hóa . (một loại ung thư hiếm gặp của ống tiêu hóa) và một vài loại bệnh bạch cầu tủy mạn.

điều trị ung thư

+ Iressa: (ZD1839 hoặc gefinitib): được FDA chấp thuận trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Thuốc này tác động vào yếu tố thụ thể phát triển biểu bì (epidermal growth factor receptor). Yếu tố này được tạo ra quá nhiều bởi nhiều loại tế bào ung thư. Những loại thuốc tác động vào các phân tử nhỏ khác đang được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng.

Thuốc gây ra chết tế bào theo lập trình : (Apoptosis-inducing drugs):

Làm cho các tế bào ung thư trải qua chết theo lập trình . (tế bào chết do ngăn cản những protein liên quan trong quá trình):
+ Velcade (bortezomib): được FDA chấp thuận để điều trị đa u tủy đã không đáp
ứng với các phương pháp điều trị khác. Velcade gây ra chết tế bào ung thư bằng cách ngăn cản enzyme gọi là proteasome. Enzyme này giúp điều hòa chức năng và sự phát triển tế bào.

+ Genasense (oblimersen): là thuốc gây chết tế bào theo lập trình, được nghiên cứu
để điều trị leukemia, non-Hodgkin lymphoma, các khối u đặc. Genasence ngăn cản sự sản xuất ra một protein gọi là BCL-2. Protein này thúc đẩy sự tồn tại của tế bào khối u. Bằng cách ngăn cản BCL-2, Genasence làm cho tế bào ung thư dễ tổn thương hơn với các thuốc chống ung thư.

Kháng thể đơn dòng, các vaccin chống ung thư, chất ức chế tăng sinh mạch và điều trị ung thư bằng gen (gen therapy) được xem là các phương pháp điều trị ung thư hướng đích bởi vì chúng ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư.
+ Trastuzumab (Herceptin)
+ Rituximab (Mabthera, Ritusan)
+ Alemtuzumab (Mabcampath, campath)
+ Cetuximab (Erbitux)
+ Erlotinib (Tarceva).

Điều trị chống tăng sinh mạch:
+ Bevacizumab (Avastin)
+ Thalidomide
Điều trị chống proteasome:
+ Bortezomibe
Càng ngày càng có nhiều loại thuốc mới khác được nghiên cứu và áp dụng vào điều trị.

Related posts

Leave a Comment