Nguyên nhân gây phùBệnh Thường Gặp Kiến Thức Cơ Bản Y Học Cơ Sở 

PHÙ, NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ, CÁCH KHÁM PHÙ

>PHÙ, NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ, CÁCH KHÁM PHÙ

Phù là gì?

Phù được định nghĩa là hiện tượng ứ nước ở khoang gian bào.

Dịch phù chủ yếu tích ở tổ chức liên kết dưới da, nơi có tổ chức lỏng lẻo và áp lực tổ chức thấp. Nếu phù nặng thì dịch phù có cả ở các khoang rỗng của cơ thể. Như khoang phúc mạc (tràn dịch màng bụng), khoang màng phổi (tràn dịch màng phổi), khoang màng tinh hoàn (tràn dịch màng tinh thoàn). Ngoài ra còn có phù phổi cấp (dịch phù tràn vào các phế nang), phù não…

Nếu căn cứ vào tính chất phù người ta chia ra hai loại phù là phù mềm và phù cứng.

Phù mềm là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da để lại một vết lõm lâu phẳng sau khi ngừng ấn. Xung quanh vết lõm gờ lên làm vết lõm giống như chiếc nghiên mài mực nho, nên gọi là dấu hiệu lõm lọ mực. Phù mềm là do nước bị ứ lại ở dạng tự do trong khoang gian bào. Đây là loại phù hay gặp trong lâm sàng.

Phù cứng là loại phù khi dùng ngón tay ấn vào da, không để lại vết lõm sau khi ngừng ấn. Phù cứng là do lượng nước ứ lại ở khoang gian bào không ở dạng tự do. Mà ở dạng liên kết với các thành phần của mô như liên kết với acid hyaluronic của tổ chức liên kết. Phù cứng gặp trong một số bệnh lý như: phù do dị ứng, phù do nhược năng tuyến giáp (phù niêm).

Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới phù mềm là loại phù hay gặp trong lâm sàng.

Khám phát hiện phù:

+ Nhìn sẽ thấy mi mắt mọng, mất các nếp gấp mi. Da vùng bị phù căng bóng, không còn nếp nhăn. Các chỗ bình thường có các hõm như hõm sau và trước mắt cá chân sẽ đầy và mất đi các hõm này. Bệnh nhân có cảm giác nặng nề ở nơi phù.

+ Khám ngoài da. Dùng ngón tay ấn vào các vùng da trên nền xương như:. mặt trước trong xương chày, mắt cá chân, vùng cột sống thắt lưng, vùng xương cùng, vùng trán… Sau khi nhấc ngón tay ra sẽ để lại một vết lõm có bờ hơi gờ cao do nước bị dồn ra xung quanh tạo nên. Vết lõm lâu mới đầy trở lại.

+ Tốt nhất là theo dõi cân nặng của bệnh nhân.

Theo dõi cân nặng vừa biết được lượng nước bị ứ lại vừa đánh giá được tiến triển của phù. Nếu trong 1 vài ngày thấy bệnh nhân tăng 1-2kg (cân cùng thời điểm trong ngày, lúc đói) kèm thêm các triệu chứng nghi ngờ phù thì cần đưa bệnh nhân đi khám để xác định có phù hay không và tìm nguyên nhân gây phù để điều trị.

+ Nếu phù toàn thân nặng cần khám xem có tràn dịch màng phổi không. Phát hiện bằng dấu hiệu 3 giảm ở đáy phổi, chụp X-quang phổi để phát hiện. Khám xác định có tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng tinh hoàn không.

Nguyên nhân gây phù

Phù toàn thân gặp trong các bệnh:. bệnh thận (viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư. suy thận cấp, suy thận mạn). bệnh tê phù thể ướt (do thiếu vitamin B1). suy dinh dưỡng. nhiễm độc thai nghén.

Phù khu trú: phù ở ngực và hai tay (phù áo khoác) gặp trong hội chứng trung thất. Do tĩnh mạch chủ trên bị chèn ép. Phù hai chi dưới do suy tim phải hay suy tim toàn bộ. phù do xơ gan. phù trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén do tĩnh mạch chủ dưới bị thai chèn ép.

Phù một chi: thường phù một chi dưới do viêm tắc tĩnh mạch sâu, viêm mạch bạch huyết.

Đặc điểm phù do các nguyên nhân khác nhau

Căn cứ vào đặc điểm khác nhau của triệu chứng phù, người ta có thể sơ bộ dự đoán được nguyên nhân gây ra phù.

+ Nguyên nhân gây phù do các bệnh thận thì có đặc điểm:

– Ban đầu xuất hiện ở hai mi mắt. Sáng ngủ dậy thấy hai mi mắt mọng. Sau một vài ngày phù xuất hiện toàn thân. Dùng ngón tay ấn vùng da trước trong xương chày, mắt cá chân thấy để lại vết lõm lâu đầy. Da vùng phù căng bóng, mất các nếp nhăn.

Các chỗ lõm tự nhiên trở nên đầy như lõm mặt sau, mặt trước mắt cá chân. Những vùng ở thấp thường phù nhiều như hai chân, vùng thắt lưng nếu bệnh nhân nằm ngửa nhiều. Nếu phù nặng (hội chứng thận hư) bệnh nhân có thể tăng 5-10kg so với khi chưa phù.

Có thể có tràn dịch màng phổi. tràn dịch màng bụng (bụng to bè, rốn đầy, gõ đục vùng thấp, dấu hiệu sóng vỗ dương tính). tràn dịch màng tinh hoàn (bìu to, da bìu căng mọng, sờ thấy tinh hoàn bình thường bên trong).

– Phù tăng về buổi sáng sau khi ngủ dậy, giảm về chiều.

– Ăn mặn thì phù tăng nhanh, ăn nhạt thì phù giảm.

– Bệnh nhân đi tiểu ít.

– Có thể đau âm ỉ hai hố thắt lưng.

– Xét nghiệm nước tiểu có protein niệu, hồng cầu niệu, trụ hình niệu.

+ Nguyên nhân gây phù do suy tim có đặc điểm:.

– Phù hai chi dưới.

– Phù tăng về chiều và giảm về sáng sau ngủ dậy, được nghỉ ngơi thì phù giảm.

– Bệnh nhân mệt, khó thở tăng khi vận động, giảm khi được nghỉ ngơi. Tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phản hồi gan-tĩnh mạch cổ dương tính.

– Khám tim phát hiện các bệnh lý thực thể của tim như bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành.

+ Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng có đặc điểm:.

Bệnh nhân thiếu ăn lâu ngày, gầy, cơ teo, phù toàn thân nhưng nặng hơn ở hai chi dưới. Xét nghiệm protein máu và albumin máu giảm nặng.

+ Tê phù thể ướt (Nguyên nhân gây phù do thiếu vitamin B1).

Bệnh nhân ăn gạo ẩm mốc, gạo dự trữ lâu ngày, phù hai chi dưới. Tê bì và mất cảm giác hai chi dưới. Giảm hoặc mất phản xạ gân xương chi dưới do tổn thương thần kinh ngoại vi. Có thể có tim to, suy tim, nhịp tim nhanh.

+ Nguyên nhân gây phù do nhiễm độc thai nghén:.

Thường xuất hiện ở người có thai 3 tháng cuối, con so, phù toàn thân kèm tăng huyết áp, protein niệu dương tính, acid uric máu tăng. Cần phát hiện sớm và điều trị tích cực đề phòng sản giật.

Cách khám một người bệnh phù.

Sự ứ nước trong tổ chức dưới da thường làm cho:.

Những bệnh có cảm giác nặng nề.

Những vùng bị sưng phù to, căng mọng, làm che lấp các chỗ lồi lõm bình thường (mắt cá, nếp răn, đầu xương).

Màu da vùng đó nhợt nhạt.

Trong trường hợp kín đáo:. Sự ứ nước có thể chưa nhiều để biểu hiện thành những triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Nhưng thường đủ để làm thay đổi cân nặng của người bệnh một cách nhanh chóng. Cho nên những trường hợp kín đáo, cần phải cân người bệnh hằng ngày:. tăng lên 1 -2,5kg trong vài ngày chỉ nó để giải thích được bằng hiện tượng phù.

Sau khi đã xác định được phù, muốn tìm nguyên nhân gây phù cần phải:

Nhận định kỹ tính chất phù.

Phát hiện các triệu chứng kèm theo.

Nhận định tính chất phù.

Mức độ (nhiều hay ít) và tiến triển hình (nhanh hay chậm): Tốt nhất nên theo dõi cân nặng để được chính xác và cụ thể.

Vị trí: Phù toàn thân hay khu trú một vùng và xuất hiện đầu tiên ở đâu?

Ấn lõm hay không?

Sự liên quan với thời gian (buổi sáng ngủ dậy thì không thấy phù, mà chỉ xuất hiện về chiều, phù do suy tim ở thời kỳ đầu) hoặc với tư thế người bệnh (phù xuất hiện khi đứng lâu) phù tim trong thời kỳ đầu, phù tĩnh mạch).

Tác dụng của chế độ ăn nhạt: thường khá rõ rệt trong phù do suy tim, do xơ gan và nhất là trong phù do viêm cầu thận cấp.

Phát hiện các triệu chứng kèm theo phù

Phản ứng mức độ nước:

Tình trạng các màng phổi màng bụng: Thường có tràn dịch trong các trường hợp phù to, nước dịch có thể trong hoặc hơi vàng chanh nhưng bao giờ cũng có ít protein và Rivalta (-) vì là dịch thấm.

Số lượng nước tiểu thải tiết trong 24 giờ: nói chung tất cả các trường hợp phù (trừ phù do viêm tĩnh mạch và phù do bệnh bạch mạch) đều làm cho người bệnh đái ít. Mức độ giảm số lượng nước tiểu thường tỷ lệ với tình trạng phù, phù càng nhiều, người bệnh càng đái ít.

Phù trên hệ tuần hoàn có chỉ điểm:

Tuần hoàn bàng hệ: Ở ngực (chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ tỉnh mạch chủ trên, thường có trong hội chứng trung thất); ở hạ sườn phải và thượng vị (chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở hệ thống cửa chủ, thường có trong phù xơ gan). ở bẹn và hạ vị (chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ dưới, thường có trong các trường hợp tắc hoặc chèn ép các tĩnh mạch chi dưới).

Xanh tím: Ở môi, ở mặt, chỉ điểm cho một cản trở cơ giới ở tĩnh mạch chủ trên hoặc tuần hoàn hoàn lớn, hoặc ở các chi tương ứng với tĩnh mạch có bệnh.

Gan to mềm, tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+): Chỉ điểm cho phù do suy tim phải.

Khó thở: Nhiều hoặc ít, thường có trong phù do suy tim.

Chỉ điểm cho một viêm nhiễm địa phương:

Tình trạng nóng, đỏ, đau ở vùng đó.

Sưng các hạch tương ứng với vùng đó.

Sốt nhiều hoặc ít.

Chẩn đoán phù

Chẩn đoán xác định

Thường không khó khăn trong trường hợp rõ ràng và cả trong các trường hợp kín đáo: căn cứ vào các biểu hiện hoặc các biện pháp đãn nêu ở trên.

Những vấn đề chủ yếu và quan trọng trong chẩn đoán phù là tìm ra nguyên nhân.

Nguyên nhân gây ra phù có thể do:

Ứ trệ tuần hoàn: Suy tim. Chèn ép tĩnh mạch hoặc tắc tĩnh mạch.

Hạ tỷ lệ protein ở huyết tương: Làm thay đổi áp lực thẩm thấu, nước dễ thoát ra ngoài huyết quản, như phù trong:Thận nhiễm mỡ. Thiếu dinh dưỡng. Xơ gan.

Ứ NaCl: 

Ba yếu tố nói trên thường có thể kết hợp với nhau và đều là những yếu tố tiên phát. Nhưng dần dần, sau một thời gian, thường có thêm một yếu tố hậu phát, đó là:

Cường adosteron hậu phát:

Ví dụ trong suy tim, thận nhiễm mỡ, xơ gan. Yếu tố này thường củng cố thêm hiện tượng phù, làm cho việc điều trị thêm khó khăn.

Ngoài 4 yếu tố thường chi phối một số lớn các trường hợp phù nói trên, còn có trường hợp nguyên nhân gây phù do:

Tổn thương các thành bạch mạch hoặc tĩnh mạch:

Đấy là các trường hợp phù do: Viêm tĩnh mạch. Viêm hạch mạch. Dị ứng.

Các biểu hiện phù trong nguyên nhân nói trên thường thể hiện dưới hai hình thái lâm sàng giúp cho ta hướng chẩn đoán nguyên nhân: Phù toàn thân và Phù khu trú từng vùng.

Chẩn đoán nguyên nhân gây phù

1. Nguyên nhân gây phù toàn thân:

Nghĩa là phù cả mặt, thân, chân tay và thường kèm thêm cả tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng bụng.

Nguyên nhân gây phù toàn thân thông thường nhất là các bệnh thận. Trong đó chủ yếu là: Thận nhiễm mỡ. Viêm cầu thận (cấp, bán cấp, hoặc kính).

Tính chất chung của một phù thận là:

Bao giờ cũng xuất hiện đầu tiên của mi mắt, ở mặt, rồi mới đến các nơi khác.

Không có liên quan với thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh (dù sao nếu người bệnh phải nằm lâu, phù thường nhất ở vùng lưng, mặt sau đùi, tuy các vùng khác vẫn phù).

Phù trắng, mềm, ấn lõm.

Bao giờ ở nước tiểu cũng có protein; mức độ nhiều ít có thể khác nhau tùy theo loại bệnh thận.

Ngoài những tính chất chung đó của phù thận, bệnh nhân nhiễm mỡ và viêm cầu thận có một số yếu tố khác nhau về lâm sàng và cận lâm sàng, mà chúng tôi trình bày trong bảng dưới đây để căn cứ vào đó, chúng ta có thễ phát hiện được.

Ngoài nguyên nhân gây phù thông thường nhất nói trên, phù toàn thân còn có thể gặp trong:

Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng:

Chủ yếu phù chi dưới, nhưng cũng có khi phù cả mặt, thân và tay.

Cũng không có liên quan đến thời gian trong ngày hoặc với tư thế người bệnh.

Cũng mềm và ấn lõm.

Nhưng không bao giờ có protein ở nước tiểu, xác định bằng protein máu giảm.

Phát hiện được bệnh tiên phát gây suy dinh dưỡng, thông thường nhất là các bệnh đường ruột mạn tính, các nhiễm khuẩn mạn tính (lao) hoặc các bệnh ác tính (ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hoá).

Nguyên nhân gây phù do nội tiết:

Được đề cập đến những năm gần đây:

Phù có thể ở chi dưới và cả ở mặt, nhưng rất kín đáo: Người bệnh cảm thấy mặt hơi nặng và ấn hơi lõm, phải theo dõi cẩn thận mới biết chắc là phù.

Thường xảy ra ở phụ nữ và có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

2. Nguyên nhân gây phù khu trú:

Phù ngực: Phù “áo khoác”, triệu chứng cổ điển của triệu chứng trung thất.

Phù hai chi dưới: Nhiều bệnh có thể gây ra phù hai chi dưới.

Nguyên nhân gây phù do suy tim phải:

Lúc đầu ít và kín đáo, chỉ có ở mắt cá chân; và chỉ xuất hiện về chiều, sau khi người bệnh đứnglâu, và mất đi lúc sáng sớm khi người bệnh ngủ dậy, về sau phù sẽ thường xuyên và rõ rệt.

Chế độ nghĩ ngơi, chế độ ăn nhạt có thể làm bớt phù.

Phù mềm, ấn lõm.

Bao giờ cũng kèm theo gan to, mềm, tức, có tính chất gan đàn xếp, tĩnh mạch cổ nổi hoặc phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) và khó thở ít hoặc nhiều.

Nếu suy tim phải kéo dài hoặc không hồi phục, có thể xuất hiện thêm cổ trướng thẩm thấu.

Nguyên nhân gây phù do xơ gan:

Mức độ có thể nhiều họăc ít, ấn lõm.

Ăn nhạt có thể bớt phù.

Thường kèm theo cổn trướng thẩm thấu và tuần hoàn bàng hệ cửa – chủ bằng soi ổ bụng và sinh thiết gan, nếu nghi ngờ.

Nguyên nhân gây phù do suy dinh dưỡng (đã nói ở trên):

Phù do bệnh tê phù ướt (bêribêri):

Chủ yếu ở bắp chân, làm bắp chân người bệnh căng, to.

Có thể ấn lõm.

Không có liên quan với thời gian, với tư thế người bệnh cũng như với chế độ ăn nhạt.

Bao giờ cũng kèm theo rối loạn cảm giác chủ quan (tê bí, kiến bò, chuột rút) và mất phản xạ gân gối.

Nguyên nhân gây phù do thai nghén:

Ở những sản phụ trong những tháng cuối của thời kỳ có thai.

3. Nguyên nhân gây phù một chi:

Thông thường nhất ở một chi dưới. Cần chú ý đến hai trường hợp:

Nguyên nhân gây phù một chi do viêm tắc tĩnh mạch (phù tĩnh mạch):

Phù mềm, ấn không lõm, trắng nhưng rất đau: đau tự phát lâu ngày làm người bệnh không dám cử động chân, đau càng tăng lên khi sờ nắn chi, nhất là đoạn chi gần chỗ viêm tắc.

Nằm nghỉ và nhất là gác chân lên cao, sẽ làm giảm bớt phù.Thường kèm theo sốt và mạch nhanh, nhưng không tương xứng vì sốt ít.

Nguyên nhân gây phù một chi do viêm mạch bạch huyết:

Lúc đầu cũng giống như phù trong phù tỉnh mạch.

Mềm, ấn không lõm, trắng nhưng cũng rất đau nhưng không nổi rõ đường đi của mạch bạch huyết thành những đường đỏ, nóng và đau.

Các hạch bạch huyết tương ứng với các mạch đó sưng to và đau.

Về sau các tổn thương đã ổn định, các tổ chức dưới da và da trở nên rất dày và cứng: đấy là” phù chân voi”, di chứng của viêm bạch mạch.

Cần tìm nguyên nhân thông thường nhất ở nước ta là giun chỉ.

Nguyên nhân gây phù một chi do dị ứng:

Thường xuất hiện đột ngột ở xung quanh mắt, mồm và thường mất đi rất nhanh.

Nguyên nhân gây phù, phù hay gặp trong bệnh gì?

Related posts

One Thought to “PHÙ, NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ, CÁCH KHÁM PHÙ”

  1. […] Phù nếu có sớm là bong gân nặng. Nghe tiếng “rắc” khi tai nạn là đứt hoàn toàn dây chằng. […]

Leave a Comment