dấu hiệu của bệnh viêm cổ tử cungBệnh Thường Gặp Giới Tính Kiến Thức Cơ Bản Sản phụ khoa Y Học Cơ Sở 

BỆNH VIÊM CỔ TỬ CUNG, DẤU HIỆU VIÊM CỔ TỬ CUNG

Bệnh viêm cổ tử cung gặp ở cộng đồng với tỷ lệ khá cao. Biểu hiện của bệnh viêm cổ tử cung cấp tính là khí hư ra nhiều, mùi hôi, có thể kèm theo máu, ngứa rát, thậm chí sốt, đau hạ vị… Dấu hiệu viêm cổ tử cung mạn tính thường mờ nhạt hơn của viêm cổ tử cung cấp tính…

  1. Sơ lược về bệnh viêm cổ tử cung

* Khái niệm về viêm cổ tử cung

Viêm cổ tử cung là những tổn thương phản ứng gây nên do virut, vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc do nội tiết . Và thường có kèm theo viêm nội mạc tử cung, viêm âm đạo hay toàn bộ vùng sinh dục.

* Dịch tễ của viêm cổ tử cung

Bệnh viêm cổ tử cung gặp ở cộng đồng với tỷ lệ 60 – 80%. Tỷ lệ này trong các bệnh viện là 70 – 90%. Viêm có thể do các vi khuẩn: Tụ cầu vàng, liên cầu nhóm D,  E.Coli… Do virus: HPV, HSV,… Do ký sinh trùng, hay do nấm. Hoặc cũng có thể mắc bệnh do các tác nhân vật lý, hóa học, dị ứng… Cổ tử cung tiếp giáp với bên ngoài qua âm đạo nên dễ bị viêm nhiễm. Đặc biệt là điều kiện vệ sinh hạn chế do nghề nghiệp hoặc trình độ về sinh thấp kém.

* Phân loại bệnh viêm cổ tử cung

Viêm cổ tử cung chia làm hai loại: viêm cấp tính và mạn tính. Viêm mạn tính hay gặp hơn nhưng thường ít dấu hiệu lâm sàng nên dễ bỏ qua.

  1. Bệnh viêm cổ tử cung cấp tính

* Đại thể của bệnh viêm cổ tử cung cấp tính

– Cổ tử cung to hơn bình thường, có khi lấp một phần âm đạo. Niêm mạc phía ngoài cũng như trong ống cổ tử cung đỏ sẫm. Có thể thấy các chấm chảy máu hoặc các ổ loét. Bờ ổ loét nham nhở, lòng chứa nhiều chất hoại tử sẫm màu.

– Cắt ngang qua cổ tử cung thấy nhiều dịch màu hồng chảy ra. Nếu viêm nhẹ thấy các chấm xung huyết. Nếu viêm nặng thấy lớp cơ dày lên và có những điểm chảy máu hoặc ổ hoại tử màu trắng.

* Vi thể của bệnh viêm cổ tử cung cấp tính

– Biểu mô: Biểu mô trụ và biểu mô vảy cổ tử cung phù nề, xâm nhập nhiều bạch cầu đa nhân trung tính. Biểu mô vảy có thể bị hoại tử, bong ra trơ lớp đệm phía dưới tạo thành các ổ loét ở bờ của lỗ ngoài cổ tử cung.

– Lớp đệm: Các huyết quản sung huyết, giãn rộng, lòng chứa đầy hồng cầu và xâm nhập nhiều tế bào viêm, chủ yếu là bạch cầu đa nhân. Các tuyến ở cổ trong giãn rộng và chứa đầy chất hoại tử. Đây là nguồn gốc sinh ra khí hư với nhiều đặc diểm khác nhau.

* Liên hệ giải phẫu bệnh – lâm sàng của bệnh viêm cổ tử cung

– Triệu chứng: Ra khí hư là triệu chứng thường gặp nhất của viêm cổ tử cung. Màu sắc và tính chất củ khí hư phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh. Nếu viêm do:

+ Trichomonas: Khí hư nhiều, màu trắng, có bọt, mùi hôi và gây ngứa.

bệnh viêm cổ tử cung
Dấu hiệu của bệnh viêm cổ tử cung

+ Nấm Candida: Khí hư nhiều, đặc, lổn nhổn và trắng như bột kèm theo ngứa rát.

+ Lậu: Khí hư nhiều, đục, màu vàng xanh, có mủ (có thể lẫn máu) kèm theo các triệu chứng sốt, đau hạ vị, đau vùng lưng, đái buốt…

+ Vi khuẩn thông thường: Khí hư vàng bẩn, mùi hôi, nếu lau mạnh biểu mô dễ bong gây chảy máu.

– Tiến triển: bệnh viêm cổ tử cung cấp tính nếu điều trị thích hợp, triệt để sẽ không để lại di chứng. Nếu không, có thể chuyển sang mạn tính hoặc để lại các di chứng như vô sinh nguyên phát, ung thư cổ tử cung…

  1. Bệnh viêm cổ tử cung mạn tính

* Đại thể bệnh viêm cổ tử cung mạn tính

– Cổ tử cung teo nhỏ, rắn chắc hoặc do tổ chức liên kết tăng sinh mạnh làm cho cổ tử cung đỏ, phì đại và biến thành hình thùng. Lỗ cổ tử cung rỉ ra chất mủ nhầy. Dần dần ống tử cung hẹp lại. Ở những phụ nữ đẻ nhiều lần có thể có trạng thái viêm cổ tử cung mạn tính nhưng hình dạng tử cung ít bị ảnh hưởng.

– Niêm mạc cổ tử cung có thể chỉ bị mờ đi hoặc có nhiều ổ loét màu đỏ, nền lổn nhổn trên màu hồng đều của biểu mô lành.

– Cắt ngang qua cổ tử cung thấy chỗ dày, chỗ mỏng, chỗ dễ cắt, chỗ khó cắt.

dấu hiệu của bệnh viêm cổ tử cung
Dấu hiệu của bệnh viêm cổ tử cung

* Vi thể bệnh viêm cổ tử cung mạn tính

– Biểu mô: Biểu mô cổ ngoài có thể quá sản, sừng hóa hoặc bị phá hoại từng phần. Biểu mô cổ trong có thể quá sản, thoái hóa hoặc dị sản vảy (dị sản kiểu Malpighi).

– Lớp đệm: Xâm nhập nhiều Lympho bào, mô bào và tương bào. Các tuyến bị biến dạng. Biểu mô trụ có thể bị phá hủy và thay thế bởi biểu mô lát tầng (biểu mô vảy) do hiện tượng dị sản. Thậm chí trong cùng một ống tuyến có thể thấy cả biểu mô trụ và biểu mô vảy. Một số tuyến bị viêm nhiễm, chít hẹp. Dịch nhầy ứ đọng trong túi tuyến đẩy niêm mạc cổ tử cung lồi lên thành các nang gọi là nang Naboth. Tổn thương lan rộng toàn bộ niêm mạc cổ trong và có thể tới eo tử cung.

* Liên hệ giải phẫu bệnh – lâm sàng của bệnh viêm cổ tử cung mạn tính

– Bệnh viêm cổ tử cung mạn tính thường là hậu quả của viêm cấp tính không được điều trị triệt để.

– Dấu hiệu của bệnh viêm cổ tử cung mạnh tính mờ nhạt hơn viêm cổ tử cung cấp tính. Có thể thấy ra khí hư với các vi khuẩn thường gặp như E.Coli, tụ cầu, liên cầu…

– Bệnh viêm cổ tử cung mạn tính dễ xảy ra hơn khi:

+ Hệ vi khuẩn sinh lý của âm đạo (trực khuẩn Doderlein) biến đi.

+ Chấn thương: các thao tác, dụng cụ khi thăm khám và điều trị sản phụ khoa gây rách cổ tử cung.

+ Hoormon: Những rối loạn hormon gây đảo lộn và tăng sinh tuyến kéo dài, dùng thuốc tránh thai kéo dài gây quá sản u tuyến và dị sản vảy.

Related posts

Leave a Comment